Toàn quốc Dấu hiệu của Bệnh giang mai

Thảo luận trong 'Y tế - Sức khỏe - Thẩm mỹ' bắt đầu bởi endypro, 21/10/15.

  1. endypro

    endypro Member

    Tham gia ngày:
    18/9/15
    Bài viết:
    57
    Điểm thành tích:
    6
    Giới tính:
    Nam
    Bị giang mai tuy không rộng rãi bằng nhung benh xa hoi nhưng hiểm nguy hơn lắm . Nó là thủ phạm tạo thành vô số mẫu chết đớn đau cho con trẻ người.

    Bệnh giang mai có tên la tinh là "Syphilis". Tên này bắt cỗi nguồn từ tên chàng chăn cừu Syphilus. Syphilus là nhân vật chính trong bản trường ca cùng tên của nhà thơ Italy Girolamo Fracastora (1530). Chàng Syphilus đã bị thần Apôlông trừng phạt bằng một thứ bệnh "dịch hạch mới" vì đã dám cả gan thầm yêu trộm nhớ thầm nữ thần Vênêra.

    Bệnh giang mai ngày nay tương đối phổ biến

    thắc mắc về những căn nguyên gây bệnh thoạt đầu gây không đồng tình khá lớn với các nhà khoa học khác nhau. ngược lại , từng chút nguồn gốc chính yếu của bệnh giang mai là do một kiểu xoắn khuẩn gây ra .

    Tên kỹ thuật của xoắn khuẩn giang mai là Treponema Pallidum. Trong cơ thể người, xoắn khuẩn giang mai có thể tồn tại không ít năm. lúc ra khỏi cơ thể chúng chỉ sống được trong một khoảng thời gian ngắn.

    Chúng bị tiêu diệt nhanh chóng khi gặp nước xà bông hoặc một vài chất xát trùng thông thường khác. Trong vài chai máu dự trữ, xoắn trùng giang mai có thể sống được ba đến năm ngày.

    tăng trưởng của bệnh giang mai có thể chia làm ba giai đoạn. triệu chứng của bệnh trong mỗi giai đoạn có khác nhau.


    Giai đoạn một

    Sau thời gian dài ủ bệnh ba tới bốn tuần kể từ lúc truyền nhiễm hiện ra một vết trượt loét trên da. Vết trượt có hình dạng tương đối tròn, màu hồng, thiếu mủ, không đau và có quy mô bằng hạt nhãn, đôi khi chỉ bằng hạt đỗ xanh. Vết trượt được gọi là "săng".

    Do săng đặc cứng mặt trong buộc phải khi sờ vào có cảm nhận trơn tuột. ở đấng mài râu , săng thường nhìn thấy trên dương vật , bìu, miệng, môi, ngón tay, cổ họng, lưỡi. ở phái yếu săng hiện ra ở quanh bộ phận sinh dục, vú, miệng, môi, ngón tay, cổ họng, lưỡi. Đôi lúc săng nằm cực kỳ sâu trong âm đạo hoặc cổ tử cung phải siêu khó phát hiện .

    Một biểu thị khác của bệnh là sau khi săng nhìn thấy khoảng bảy đến mười ngày vài hạch ở gần vùng săng xuất hiện phù nề lên, thường là phù nề vài hạch bẹn, nách và cổ.

    Sau đấy , săng sẽ tự biến mất trong vòng một tới năm tuần nhưng hạch vẫn còn phù những tháng sau nữa mới hết. Thời kỳ này rất dễ lây truyền vì vết loét (săng) nhung nhúc xoắn khuẩn giang mai.


    Giai đoạn hai

    Xoắn khuẩn tiếp tục thâm nhập vào hệ tuần hoàn máu và chỉ sau một vài tháng chúng đã lan tràn ra khắp cơ thể. bộc lộ đặc biệt của giai đoạn này là sự xuất hiện vô số những nốt ban đỏ trên khắp bề mặt da của cơ thể.

    Ban đỏ tập trung lắm đối với bẹn, hai bên sườn, lưng, bụng, lòng bàn tay, bàn chân. những nốt ban này không ngứa, không đau, nhiều khi dễ bị nhầm lẫn với vấn đề phát ban do dị ứng ngoài da.

    Cổ họng của bệnh nhân thường cực kỳ đỏ nhưng không đau, giọng nhắc trở thành khàn hơn. bộ phận sinh dục, đặc trưng là bộ phận sinh dục phái đẹp ẩm ướt hơn vài khu vực khác trên cơ thể bắt buộc các nốt ban có nguy cơ liên kiết tạo thành mảng trông giống như bề mặt của loại súp lơ.

    Bề mặt của các mảng đó có nguy cơ bị loét ra và chứa đầy xoắn khuẩn giang mai. Một giang mai triệu chứng thời kỳ này là rụng tóc. Tóc có thể rụng từng đám hoặc rụng từng nhúm nhỏ, chính vì thế phần tóc còn lại trên đầu trông giống như bị gặm nham nhở.

    những khớp xương do bị xoắn khuẩn tấn công cần bị phù và đau. Trong giai đoạn hai này, giang mai rất dễ lây truyền sang người khác, chỉ buộc phải đụng chạm, tiếp xúc với miền nổi sần đỏ cũng có nguy cơ bị lây bệnh.

    Người bị bệnh giang mai có nguy cơ truyền xoắn khuẩn giang mai sang cho người khác từ tất cả cơ quan cơ thể chứ không nhất thiết phải qua đường tình dục .


    Giai đoạn ba - Giai đoạn tàng ẩn

    Đây là giai đoạn giang mai không biểu lộ nghĩa là bệnh không thể hiện biểu thị ra phía ngoài . ngược lại , ở giai đoạn này, bệnh giang mai vẫn đang lớn mạnh . Xoắn khuẩn giang mai chuyển hướng tấn công vào bên trong cơ chể gây thương tổn ở não, tuỷ sống, tim, mạch máu, xương và một vài nội quan khác.