Những biến chứng nguy hại của viêm xoang bệnh nhân nên biết

Thảo luận trong 'Y tế - Sức khỏe - Thẩm mỹ' bắt đầu bởi nhungle233, 18/4/16.

  1. nhungle233

    nhungle233 Member

    Tham gia ngày:
    19/10/15
    Bài viết:
    270
    Điểm thành tích:
    16
    Giới tính:
    Nữ
    do mắt ở sát, dọc theo một số xoang, lại chỉ được phân biện pháp bởi thành xương mỏng, với xoang sàng thành xương rất mỏng được gọi là xương giấy, mắt lại có ống nước mắt thông xuống mũi, chạy sát vào xoang bắt buộc vài viêm xoang rất dễ đưa đến biến chứng ở mắt. Để dễ làm có khả năng chia một vài biến chứng ở mắt do viêm xoang làm 3 loại:
    [​IMG]
    – Tổn thương ở phần trước mắt
    rất hay gặp đặc biệt viêm kết mạc: mắt đỏ, có dử mắt, cay, chảy nước mắt – với trẻ nhỏ phần lớn xuất hiện và mất đi theo những lần viêm xoang cũng có thể đưa đến viêm kết mặc với mờ mắt.
    Viêm túi lệ, viêm bờ mi: cũng hay gặp với cục dử ở khóe trong mắt, hình thành nhanh nhất là sau đó ngủ dậy, dử mắt dọc theo bờ mi làm mắt luôn kèm nhèm, ướt, dính, nước mắt thường chảy giàn dụa, ngược lại nếu viêm có ảnh hưởng tắc ống nước mắt thường có ảnh hưởng khô mắt, tác động đến nhìn.
    ---->>>>Tìm hiểu viêm mũi dị ứng tại website : phongkhammui.com
    – Viêm tấy mủ: gặp ở bé vì viêm xoang sàng cấp mủ vì vách xương sàng rất mỏng (xương giấy) nên mủ ở xoang sàng có ảnh hưởng viêm tấy, phù nề mi mắt làm khó mở mắt, mi mọng tím, ấn nhức.
    – Rò rỉ mi mắt: chỉ gặp ở trẻ nhỏ, có khả năng ở trẻ dưới 1 năm tuổi, mủ bằng xoang sàng phá vỡ vách xương thành túi mủ dưới da vùng khóe mắt trong sau vỡ thành lỗ rò ra ngoài ở mi trên hoặc mi dưới. Viêm xoang hàm cấp ở hài nhi hay đúng hơn là cốt tủy viêm xương hàm trên làm lỗ rò ở mi dưới vùng má. những lỗ rò không chỉ ảnh hưởng tới thẩm mỹ vì tạo thành sẹo mà còn tác động rõ đến mắt vì mi mắt bị mắc sẹo co kéo khiến ko khép được mắt kín, ngay cả những lúc ngủ, dài ngày có ảnh hưởng khô mắt, sẹo kết mạc gây ảnh hưởng nhiều đến sức nhìn.
    >>> Tìm hiểu vẹo vách ngăn mũi tại website : phongkhammui.com`
    – Tổn thương trong ổ mắt: tuy là một vài biến chứng ít gặp nhưng vô cùng thường đưa tới hỏng, mất do nên khoét bỏ ổ mắt bị mắc viêm tấy mủ.
    Với trẻ nhỏ, chủ yếu là bé dưới 2 – 3 tuổi, tuy cũng gặp ở trẻ em to hơn vì viêm tấy mủ xoang sàng, phá vỡ vách xương giấy khiến mủ rò ra vào trong ổ mắt làm nhức đau mắt rõ rệt, mắt bị mắc lồi ra ngoài, cả mi trên, mi dưới tất cả đều sưng nề, mở mắt khó, liếc mắt bị mắc hạn chế, sức nhìn suy giảm đi nhanh đưa đến mất công dụng nhìn.
    Với người to chủ yếu là vì viêm xoang trán tấy mủ, phổ biến sau chấn thương, tắc ống thông trán – mũi. Mủ ứ đọng trong xoang trán có thể phá vỡ thành dưới xoang vào ổ mắt hoặc bên ngoài ổ mắt cũng gây một số dấu hiệu ví dụ trên.
    do một vài viêm tấy mủ trong ổ mắt tác động nghiêm trọng phải buộc phải nhập viện, phối hợp chữa tích cực nội khoa và ngoại khoa, giữa Tai Mũi Họng và Mắt. lưu ý phát hiện sớm, coi là cấp cứu vì trường hợp để muộn có khả năng ko cứu được mắt mắc viêm mủ nặng.
    – Viêm thần kinh mắt còn gọi là viêm thị thần kinh hậu nhãn cầu là một biến chứng nên được đặc trưng lưu ý vì có khả năng gây mù, khó chuẩn đoán vì một vài hiện trạng ít và ko rõ ràng.
    Người bị mắc dễ bị mắc mờ mắt đột ngột, có khả năng một bên hoặc cả hai bên (tối vẫn nhìn bình dễ, sáng dậy thấy nhìn mờ, không rõ) mức độ mờ tùy từng người nhưng có đặc tính mờ mắt ngày càng tăng, sau một thời gian (có thể chỉ các ngày) sức nhìn giảm hoặc mất hẳn. Ngoài mờ mắt hầu hết không có triệu chứng gì: không nhức mắt, ko có hiện trạng ruồi bay (các vật đen di chuyển ở mắt), ko có ám điểm (vùng đen ko nhìn rõ), không lồi mắt, hoa mắt, … các hiện tượng viêm xoang cũng ko rõ: không sốt, nóng nhức vùng xoang hay ngạt khó thở tăng – rất thường gặp ở người mắc viêm xoang mạn với hiện tượng hay khịt khặc mũi, có mũi nhầy, mủ chảy xuống họng, có khả năng có nóng đầu âm ỉ vùng gáy hoặc đôi những lúc có hiện tượng nhìn mờ từng khi.
    Biến chứng rất hay gặp ở vài trường hợp viêm xoang sau mạn không rõ rang, không nặng, thậm chí không được biết đến, ít gặp ở người bị viêm xoang cấp hay đợt cấp với sốt, nóng, chảy mủ đặc nhiều hay một số viêm xoang mạn có pôlip rõ. Ngay những khi chụp Xquang, nói cả phim cắt lớp vi tính cũng chỉ cho thấy cả tổn thương ở xoang, chủ yếu là xoang sàng sau nhẹ ví dụ dày viêm mạc, có dịch, …
    do vậy, việc chuẩn đoán đòi hỏi có sự phối hợp hữu hiệu giữa thầy thuốc mắt (bệnh nhân sẽ đến khám mắt là chính) và thầy thuốc Tai Mũi Họng.
    các nếu viêm thần kình mắt do viêm xoang sau nếu được phẫu thuật (đơn giản chỉ mở, nạo xoang sàng sau) dễ đưa tới kết quả khả quan, sức nhìn có thể hồi phục hoàn toàn.
    nên nhớ chỉ phẫu thuật xoang khi xác định ko có vài hội chứng có ảnh hưởng mờ mắt như: thiên đầu thống, đục thủy tinh thể, xuất huyết vọng mạc …
    khi mờ mắt phải đến khám xác định ngay vì trường hợp sau xuất hiện mờ mắt hàng tháng sẽ đưa tới thoái hóa thần kinh mắt, kết quả phẫu thuật thường rất giảm thiểu hoặc ko công năng.
    3. Biến chứng sọ não
    Là vài biến chứng nguy hiểm tới tính mạng. hiện tại ở Đông Nam Á vô cùng ít gặp biến chứng sọ não vì viêm xoang. chính vì vậy, theo vài tài liệu ở một vài nước Âu – Mỹ, biến chứng ọ não do ciêm xoang gặp tương đương với vì viêm tai; có thể do ở Đông Nam Á còn chưa phát hiện được đa số nhất là trong triệu chứng cấp cứu nguy hiểm.
    Các biến chứng sọ não dễ được kể đến là:
    – Viêm màng não do viêm xoang: có thể do viêm xoang cấp hay lần cấp của viêm xoang mạn, dễ với vài xoang sàng, trán hay trán sàng, đặc thù sau chấn thương xoang.
    một vài hiện trạng viem màng nào thường rõ rệt ở bé, có khả năng tiềm tang ở người có tuổi. vì viêm màng não xuất hiện đột ngột, với những dấu hiệu rõ rệt ví dụ như sốt cao, đau đầu dữ dội, nôn nhiều hoặc mê sảng, li bì bắt buộc ít để ý tới một số hiện tượng của viêm xoang. điều trị viêm màng não cấp thường qua khỏi dễ buộc phải khó xác định là biến chứng ngay trong lần đầu.
    Cần lưu ý:
    Viêm màng não do viêm xoang dễ bị tái phát, nếu lưu ý sẽ thấy viêm màng não xuất hiện một vài ngày sau đợt cấp của viêm xoang (chảy mũi mủ, ngạt tắc mũi …)
    Các trường hợp chấn thương xoang tuy đã qua khỏi nhưng thỉnh thoảng có chảy nước não tủy qua mũi, có thể chỉ chảy khi để đầu ở một tư thế nào đó nếu xuất hiện viêm màng não cần lưu ý phát hiện do tổn thương ở xoang.
    Với viêm màng nào do viêm xoang sau khi điều trị viêm màng não ổn định cần phẫu thuật xoang loại trừ bệnh tích, bịt lấp lỗ rò, rách màng não để tránh tái phát.
    – Viêm tĩnh mạch xoang hang do viêm xoang: tĩnh mạch xoang hang là tĩnh mạch lớn nằm ép ở hai bên phía trước não, tĩnh mạch này nhận máu từ các tĩnh mạch mũi xoang nên có thể bị viêm trong các viêm cấp hay đợt cấp của viêm xoang. Khi bị viêm có các dấu hiệu khá rõ rệt: sốt cao 40 – 410C, thường có cơn rét run, thể trạng nhiễm trùng rõ: mệt mỏi, li bì, mạch nhanh, môi khô …, nhanh chóng có các dấu hiệu ở mắt như phù nề mắt, mắt bị lồi ra trước, ấn đau, liếc mắt hạn chể, nặng hơn mi mắt bầm tím, nổi mạch rõ, mắt lồi to, không đưa qua đưa lại được, mờ mắt rõ …
    Biến chứng viêm mắt là viêm mắt tĩnh mặt hang không chỉ tác động trầm trọng đến mắt mà còn đưa tới tình trạng nhiễm trùng máu, viêm màng não … nên phải được coi là cấp cứu nguy hiểm, điều trị tại các cơ sở mắt hay Tai Mũi Họng có điều kiện, theo dõi sát cao.
    – Áp xe não do viêm xoang: các xoang trán, xoang sàng có liên quan chặt chẽ với hố não trước nên viêm xoang này có thể đưa tới ổ mủ trong não.
    Lưu ý: do vị trí ổ mủ chủ yếu ở hố não trước thùy trán nên áp xe não do xoang có những đặc điểm khó phát hiện hơn áp xe não do tai (ổ hố não giữa hay hố não sau). Thùy trán không có chức năng vận động hay giác quan nên áo xe não thùy trán không gây liệt tay, chân hay nửa người (thường gặp do tai nạn), cũng không gây cấm khẩu, điếc.
    Áp xe thùy trán gây các biến đổi về tâm thần, tri giác như lú lẫn, nói mê, mộng du (đi không chủ động), ảo thanh (nghe những tiếng không có thật), ảo thị (nhìn những hình ảnh không có thật như cháy nhà, tai nạn xe …) do đó phải lưu tâm mới phát hiện được, khi nghi ngờ cần chụp vi tính cắt lớp sọ não để phát hiện ổ áp xe. Nếu có ổ áp xe cần phẫu thuật lấy bỏ hay dẫn lưu ổ mủ.