Phân loại báo cáo tài chính trong Doanh nghiệp

Thảo luận trong 'Chợ Linh Tinh' bắt đầu bởi bocap123, 31/7/16.

  1. bocap123

    bocap123 Member

    Tham gia ngày:
    5/7/16
    Bài viết:
    30
    Điểm thành tích:
    6
    Giới tính:
    Nữ
    Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược.



    [align=center][​IMG][/align]

    Theo quyết định số 15/2006/QĐ-BTC hệ thống báo cáo tài chính gồm báo cáo tài chính năm và báo cáo tài chính giữa niên độ.

    1. Báo cáo tài chính năm

    Báo cáo tài chính năm, gồm:

    - Bảng cân đối kế toán

    - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

    - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

    - Bản thuyết minh báo cáo tài chính

    2. Báo cáo tài chính giữa niên độ

    Báo cáo tài chính giữa niên độ gồm báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ và báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược.

    a. Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ, gồm:

    - Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng đầy đủ)

    - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ(dạng đầy đủ)

    - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng đầy đủ)

    - Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc

    b. Báo cáo tài chính giữa niên độ dạng tóm lược, gồm:

    - Bảng cân đối kế toán giữa niên độ (dạng tóm lược)

    - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ(dạng tóm lược)

    - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ giữa niên độ (dạng tóm lược)

    - Bản thuyết minh báo cáo tài chính chọn lọc
    3. Trách nhiệm lập và trình bày báo cáo tài chính

    (1) Tất cả các doanh nghiệp thuộc các ngành, các thành phần kinh tế đều phải lập và trình bày báo cáo tài chính năm.

    Các công ty, Tổng công ty có các đơn vị kế toán trực thuộc, ngoài việc phải lập báo cáo tài chính năm của công ty, Tổng công ty còn phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm dựa trên báo cáo tài chính của các đơn vị kế toán trực thuộc công ty, Tổng công ty.

    (2) Đối với DNNN, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán còn phải lập báo cáo tài chính giữa niên độ dạng đầy đủ.

    Các doanh nghiệp khác nếu tự nguyện lập báo cáo tài chính giữa niên độ thì được lựa chọn dạng đầy đủ hoặc tóm lược.

    Đối với Tổng công ty Nhà nước và DNNN có các đơn vị kế toán trực thuộc còn phải lập báo cáo tài chính tổng hợp hoặc báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ.

    (3) Công ty mẹ và tập đoàn phải lập báo cáo tài chính hợp nhất giữa niên độ và báo cáo tài chính hợp nhất vào cuối kỳ kế toán năm theo quy định tại Nghị định số 129/2004/NĐ-CP ngày 31/5/2004 của Chính phủ. Ngoài ra còn phải lập báo cáo tài chính hợp nhất sau khi hợp nhất kinh doanh theo quy định của Chuẩn mực kế toán số 11 “Hợp nhất kinh doanh”

    4. Yêu cầu lập và trình bày báo cáo tài chính

    Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ các yêu cầu qui định tại Chuẩn mực kế toán số 21 - Trình bày báo cáo tài chính, gồm:

    - Trung thực và hợp lý;

    - Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với qui định của từng chuẩn mực kế toán nhằm đảm bảo cung cấp thông tin thích hợp với nhu cầu ra quyết định kinh tế của người sử dụng và cung cấp được các thông tin đáng tin cậy.

    Việc lập báo cáo tài chính phải căn cứ vào số liệu sau khi khoá sổ kế toán. Báo cáo tài chính phải được lập đúng nội dung, phương pháp và trình bày nhất quán giữa các kỳ kế toán. Báo cáo tài chính phải được người lập, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán ký, đóng dấu của đơn vị.

    5. Nguyên tắc lập và trình bày báo cáo tài chính

    Việc lập và trình bày báo cáo tài chính phải tuân thủ sáu (06) nguyên tắc quy định tại Chuẩn mực kế toán số 21 – “Trình bày báo cáo tài chính”:Hoạt động liên tục, cơ sở dồn tích, nhất quán, trọng yếu, tập hợp, bù trừ và có thể so sánh.

    Việc thuyết minh báo cáo tài chính phải căn cứ vào yêu cầu trình bày thông tin quy định trong các chuẩn mực kế toán. Các thông tin trọng yếu phải được giải trình để giúp người đọc hiểu đúng thực trạng tình hình tài chính của doanh nghiệp.
    >>> Xem thêm: dịch vụ kiểm toán

    6. Kỳ lập báo cáo tài chính

    a. Kỳ lập báo cáo tài chính năm

    Các doanh nghiệp phải lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán năm là năm dương lịch hoặc kỳ kế toán năm là 12 tháng tròn sau khi thông báo cho cơ quan thuế. Trường hợp đặc biệt, doanh nghiệp được phép thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập báo cáo tài chính cho một kỳ kế toán năm đầu tiên hay kỳ kế toán năm cuối cùng có thể ngắn hơn hoặc dài hơn 12 tháng nhưng không được vượt quá 15 tháng.

    b. Kỳ lập báo cáo tài chính giữa niên độ

    Kỳ lập báo cáo tài chính giữa niên độ là mỗi quý của năm tài chính (không bao gồm quý IV).

    c. Kỳ lập báo cáo tài chính khác

    Các doanh nghiệp có thể lập báo cáo tài chính theo kỳ kế toán khác (như tuần, tháng, 6 tháng, 9 tháng...) theo yêu cầu của pháp luật, của công ty mẹ hoặc của chủ sở hữu.

    Đơn vị kế toán bị chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản phải lập báo cáo tài chính tại thời điểm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi hình thức sở hữu, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản.