Toàn quốc Phát triển thuận lợi của máy in mã vạch

Thảo luận trong 'Chợ Linh Tinh' bắt đầu bởi banhBeocungcap, 13/10/16.

  1. banhBeocungcap

    banhBeocungcap Member

    Tham gia ngày:
    2/8/16
    Bài viết:
    39
    Điểm thành tích:
    6
    Giới tính:
    Nữ
    Lịch sử hình thành và phát triển
    Để thuận lợi và lên cao hiệu quả Trong bán và quản lý sản phẩm bằng ứng dụng máy in mã vạch zebra zm400 nhà cung cấp thường in trên hàng hoá 1 cái mã hiệu đặc biệt gọi là mã số mã vạch.
    Mã số mã vạch là một Với những công nghệ nhận dạng và thu thập dữ liệu tự động dựa trên nguyên tắc: đặt cho đối tượng cần quản lý 1 dãy số (hoặc dãy chữ và số), sau đó bộc lộ dưới dạng mã vạch để máy quét có thể đọc được. Từ quản lý hàng hóa người ta gọi dãy số và dãy vạch đó là mã số mã vạch của hàng hóa.
    Mã số mã vạch thứ 1 đều cung ứng và mang vào sử dụng trên thế giới Với các năm thập kỷ 70 từ thế kỷ 20. Do nhu cầu phát triển cung ứng và đầu tư thương mại, khoa học mã số mã vạch ngày ngày một nghiên cứu hoàn thiện, phát triển và đều dụng phổ biến Với đa ngành kinh tế và trên toàn thế giới.
    Năm 1973 tổ chức MSMV thứ 1 được xây dựng thương hiệu, đó là Hội đồng mã thống nhất của Mỹ (viết tắt tên tiếng Anh là UCC).

    Năm 1977, Hội mã số vật phẩm Châu âu (EAN) xây dựng thương hiệu do sáng kiến từ 12 nước Châu Âu, đến năm 1984 đổi thành EAN International, là một đơn vị phi lợi nhuận, hoạt động trên cơ sở trung lập có mục đích chính là đẩy mạnh ứng dụng hệ thống EAN trên toàn cầu Trong hầu hết những ngành kinh tế - xã hội nhằm cung ứng ngôn ngữ chung cho th¬ương mại quốc tế (đặc biệt là thương nghiệp điện tử. . .).
    Từ năm 2005, hai đơn vị EAN International và UCC thống nhất thành 1 tổ chức phân định toàn cầu với tên là GS1.
    I. Mã số Mã vạch là gì ?

    Mã số là 1 dãy chữ số nguyên, Với đó có các nhóm số để chứng minh về xuất phát hàng hoá: đây là sản phẩm gì? do đơn vị nào xuất? doanh nghiệp đó thuộc nhà nước nào?. Do bí quyết đánh số như vậy và áp dụng nó vào các ngành y tế hiện đại ngày nay như may in ma vach cho nganh y te, mỗi loại hàng hoá sẽ với dãy số duy nhất để nhận dạng đơn nhất trên toàn thế giới. Đây là một cấu trúc mã số thương hiệu tiêu dùng để nhận dạng sản phẩm hàng hoá trên các quốc gia (vùng) khác nhau, tương tự như cấu trúc mã số điện thoại để liên lạc quốc tế.
    Mã vạch (Barcode) theo khái niệm là cách lưu trữ và truyền vận chuyển thông tin bằng một cái ký hiệu gọi là ký mã vạch (Barcode symbology). Ký mã vạch hay gọi tắt cũng là mã vạch, là 1 dãy các vạch và khoảng trống đồng thời xen kẽ đều xếp đặt theo 1 qui tắc mã hóa nhất định để mô tả mã số (hoặc các dữ liệu gồm cả chữ và số). sự thay đổi Trong độ rộng từ vạch và khoảng trắng trình diễn thông tin số hay chữ số dưới dạng mà máy vạch có thể đọc với gắn đầu Laser (Scanner) nhận và đọc đều.
    Mã số mã vạch đều thu nhận bằng 1 máy quét mã vạch, là 1 máy tiếp thụ hình ảnh của mã vạch in trên những bề mặt và chuyển thông tin chứa Từ mã vạch tới máy tính hay các thứ bắt buộc thông báo này và mã vạch đều giải mã thành dãy số một cách tự động, gọi ra tiệp dữ liệu tương tác đến hàng hoá đang lưu trữ Trong cơ sở dữ liệu về mặt hàng hàng hóa. Máy quét mã vạch thường với một nguồn sáng kèm theo thấu kính để tụ hội ánh sáng lên mã vạch, rồi thu ánh sáng phản xạ về một cảm quang chuyển hóa tín hiệu ánh sáng thành tín hiệu điện. ngoài ra, phổ biến máy quét mã vạch còn có thêm mạch điện tử xử lý tín hiệu thu đều Từ cảm quang đãng để chuyển thành tín hiệu ưa thích cho liên kết sở hữu máy tính.
    II. sở hữu bao nhiêu dòng Mã vạch ?
    mang thể nói mã vạch cũng giống như một đạo quân những ký hiệu gần gũi, chúng xuất hiện tại khắp tất cả nơi, toàn bộ chỗ, trên hầu hết những sản phẩm lưu hành trên thị trường. Ai cũng được thấy chúng nhưng ít ai hiểu đều rõ ràng về chúng. khi đều hỏi về mã số mã vạch phần nhiều người ta chỉ biết mã vạch là…Mã vạch. Nó là biểu trưng, mã hóa 1 con số gì đó mà người ta ko hiểu. Nói như vậy mã vạch chỉ có một dòng duy nhất và nó đều dùng để lưu trữ một con số gì đó. (hình ảnh)
    Thực ra mã số mã vạch gồm nhiều mặt hàng khác nhau. Tùy theo dung lượng thông báo, dạng thông báo đều mã hóa cũng như mục tiêu dùng mà người ta chia ra làm phổ biến loại, Từ đó có những dạng thông dụng trên thị trường mà ta thấy gồm: UPC, EAN, Code 39, Interleaved 2of 5, Codabar và Code 128… ngoài ra, Trong 1 số loại mã vạch người ta còn phát triển làm cho đa dạng Version khác nhau, sở hữu mục đích dùng khác nhau, tỉ dụ như UPC sở hữu các Version UPC-A, UPC-B, UPC-C, UPC-D và UPC-E; EAN với những Version EAN-8, EAN-13, EAN-14; Code 128 gồm Code 128 Auto, Code 128-A, Code 128-B, Code 128-C
    UPC (Universal Product Code)
    UPC là 1 cái ký hiệu mã hóa số đều ngành công nghiệp thực phẩm áp dụng vào năm 1973. Ngành công nghiệp thực phẩm đã phát triển hệ thống này nhắm gán mã số ko trùng lặp cho từng sản phẩm. Người ta sử dụng UPC như “Giấy phép bằn số” cho những sản phẩm riêng lẻ.
    UPC gồm mang 2 thành phần: Phần mã vạch mà máy có thể đọc được và phần số mà con người sở hữu thể đọc đều. số của UPC gốm 12 ký số, không bao gốm ký tự. đó là mã số dung để nhận diện mỗi sản phẩm dùng biệt lập. UPC đều trở thành nhiều Version UPC-A, UPC-B, UPC-C, UPC-D và UPC-E Từ đó UPC-A đều coi là phiên bản chuẩn của UPC, các phiên bản còn lại được phát triển theo những yêu cầu đặc biệt của ngành công nghiêp.
    Mã UPC vẫn còn đang sử dụng ở Hoa Kỳ và Bắc Mỹ.
    EAN (European Article Number)
    EAN là bước phát triển kế tiếp của UPC. Về cách mã hóa nó cũng y chang như UPC nhưng về dung lượng nó gồm 13 ký số Từ đó 2 hoặc 3 ký số thứ 1 là ký số “Mốc”, sử dụng để biểu đạt cho nước xuất xứ. các ký số này chính là “mã quốc gia” của mặt hàng được cấp bởi tổ chức EAN quốc tế (EAN International Organization)
    EAN còn sở hữu 1 biến thể khác từ nó là JAN (Japaneses Artical Numbering) bản tính là EAN từ người Nhật mang mã quốc gia là 49.
    Vì EAN phát triển có mã nhà nước phải nó đều dùng trên những mặt hàng lưu thông trên toàn cầu. những tiêu chuẩn từ EAN do doanh nghiệp EAN quốc tế quản lý. ở Việt Nam, những công ty muốn dùng đều mã vạch EAN trên mặt hàng của chủ đầu tư, nên là thành viên của doanh nghiệp Mã Số Mã Vạch Việt Nam, gọi tắt là EAN Việt Nam, để đều cấp mã số doanh nghiệp.
    Code 39
    UPC và EAN dù là 2 mẫu mã vạch với tính chất chuyên nghiệp và quốc tế nhưng khuyết điểm của nó là dung lượng có dừng và chỉ mã hóa được số, không mã hóa đều chữ.
    Code 39 được phát triển sau UPC và EAN là ký hiệu chữ và số thông dụng nhất. Nó không mang chiều dài nhất định như UPC và EAN bởi vậy với thể lưu trữ rộng rãi lượng thông báo hơn bên Trong nó. Do thính linh hoạt như vậy, Code 39 đều sử dụng rộng rãi nhiều Từ bán sỉ và cung ứng. Bộ ký tự này bao gồm tất cả những chứ hoa, những ký tự số Trong 0 tới 9 và 7 ký tự đặc trưng khác.
    nhiều công ty đã tậu một dạng thức Code 39 để khiến cho chuẩn công nghiệp của mình Với đó đáng chú ý là Bộ Quốc Phòng Mỹ đã lấy Code 39 khiến cho bộ mã gọi là LOGMARS
    INTERLEAVED 2 OF 5
    Interleaved 2 of 5 là một dòng mã vạch chỉ mã hóa ký số chứ không mã hóa ký tự. điểm tốt từ Interleaved 2 of 5 là nó sở hữu độ dài mang thể đổi thay đều và được nén cao bắt buộc với thể lưu trữ được đa dạng lượng thông tin hơn Từ 1 khoảng ko gian không lớn lắm.