Toàn quốc Tư vấn kinh doanh dich vụ khách sạn tại Việt Nam

Thảo luận trong 'Quảng Cáo Website' bắt đầu bởi thanhtrung35g1, 4/10/16.

  1. thanhtrung35g1

    thanhtrung35g1 Member

    Tham gia ngày:
    24/9/16
    Bài viết:
    53
    Điểm thành tích:
    6
    Giới tính:
    Nam
    Một số nhà đầu tư nước ngoài đang mong muốn đầu tư kinh doanh dịch vụ khách sạn tai Việt Nam, tuy nhiên chưa biết có được tiến hành kinh doanh hay không, pháp luật hiện hành quy định vấn đề này như thế nào.
    Nhà đầu tư nước ngoài là gì?
    Theo quy định tại khoản 14 Điều 3 Luật đầu tư 2014, Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài,Thành lập doanh nghiệp theo pháp luật nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.

    [​IMG]

    Dịch vụ thành lập doanh nghiệp
    Đầu tư kinh doanh là gì?
    Theo quy định tại khoản 5 Điều 3 Luật đầu tư 2014, Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.

    Nhà đầu tư nước ngoài có được phép kinh doanh dịch vụ khách sạn tại Việt Nam ?
    Theo cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO, dịch vụ khách sạn được coi là dịch vụ xếp chỗ ở khách sạn (CPC 64110).

    Nhà Đầu tư nước ngoài được phép thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư để tiến hành kinh doanh dịch vụ khách sạn tại Việt Nam.

    Tùy thuộc vào việc tiến hành kinh doanh dịch vụ khách sạn được tiến hành như thế nào, thì có thể xác định xem dự án đầu tư đó có cần phải có dự án đầu tư hay không, có phải thông qua quyết định chủ trương hay hoặc có thuộc trường hợp phải thực hiện thủ tục Cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư hay không? Các điều kiện cần phải đáp ứng là gì ?

    Ví dụ: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Luật Đầu tư 2014, dự án đầu tư của Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài thuộc trường hợp phải cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.

    Tuy nhiên, căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 36 Luật Đầu tư 2014, đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế không phải tiến hành thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư.
    Xem Thêm: Tư vấn thành lập doanh nghiệp